[Kể chuyện ở Mỹ] Đêm cuối giữa lòng Manhattan

Câu chuyện này diễn ra vào ngày cuối cùng ở Mỹ trong năm học này . Để đặt cùng chuyến bay về Việt Nam với đứa bạn của mình, tôi đã cắn răng mua chiếc vé lúc 9h30 sáng ngày thứ hai, mùng một tháng sáu. Giờ bay oái oắm khiến việc đi tàu từ trường lúc rạng đông khó khả thi, vì không thể liều làm lỡ thêm một chuyến bay xuyên lục địa nào nữa trong cuộc đời. Và thế là, tôi được một người bạn rất thân cho ở nhờ đêm hôm đó, nhà ở ngay chính giữa khu thành thị phồn hoa Manhattan.

Chiều ngày Chủ Nhật hôm ấy, tôi định bụng sẽ pack hết đồ và di chuyển ra ga tàu lúc năm giờ, để bảy giờ tối xuống được New York City. Thế mà có bao nhiêu chuyện, pack nốt đồ, dọn dẹp lau dọn phòng, trả chìa khoá, copy dữ liệu vào hard drive (rồi rơi vỡ luôn hard drive), tất tả chạy khắp campus để làm cho xong, khiến tôi lỡ mất ba lần taxi (lúc ấy chắc họ cũng cay cú lắm). Thật may mắn, một người bạn đã gọi hộ chú taxi quen thuộc, và thay vì lấy 7 đô như thường lệ, chú chỉ lấy 5 đô ra train station, đi cũng nhanh để vừa kịp chuyến tàu 7:43 tối xuống thành phố.

Đấy không phải là “quý nhân” đầu tiên tôi gặp trong lần di chuyển rất khó khăn này. Mang vác hai vali đã khó, mà việc này khiến tôi còn nhận ra hệ thống subway của New York sẽ trở nên vất vả thế nào với những người khuyết tật. Để tới nhà bạn, tôi chỉ cần đi ba bến subway, mà chỗ nào cũng phải lê hai cái vali 23 cân hai, ba chục bậc cầu thang. Nghĩ thì đơn giản, nhưng đến khi thật sự xách chúng lên tôi mới hiểu được sự hữu hạn của sức người – hoặc chí ít, sự hữu hạn của cái cơ thể yếu ớt của tôi. Thế là tay trái đưa vali nâu lên một bậc, tay phải đưa vali xanh lên một bậc. Cứ thế, từng chiếc vali cứ lạch bạch lạch bạch trong nhà ga đông người, mà cái thằng bé đứng kéo nó thì mồ hôi sắp xỉu. Thấy chiếc tàu mình cần lên đã đến, mà tôi vẫn còn khoảng mười bậc nữa mới tới platform, một người đi đường rất tốt bụng đã tự nhấc bổng phía bên kia tay kéo vali lên, rồi bê hộ tôi xuống để tôi chạy kịp vào tàu.

Hôm ấy trời bão rất to. Mưa ướt, sấm sét, mà hai tay tôi thì không cầm nổi được chiếc ô. Khi đi từ ga subway lên, cả dọc cầu thang sũng nước. Lúc ấy tôi chỉ muốn bỏ cuộc và đi thẳng tới sân bay rồi ở qua đêm. Nhưng tính ham chơi thế nào, vẫn lại quyết định lạch bạch hai chiếc vali từng bậc một để tới nhà bạn – tò mò mà. Có một cô, tầm tuổi trung niên, đi cùng bạn trai, từ phía đường phố quay ngược lại và offer xách hộ vali cho tôi. Cũng nhờ họ mà tôi có thể chạy nhanh vào những tán cây trên phố và tiếp tục cuộc hành trình của mình.

DSC_2590 copyNhà bạn tôi nằm ở SoHo, phải đi qua Waverly Place mới đến. Không wifi, không tiền điện thoại, tôi chỉ biết đi thẳng trong màn đêm. Trời vẫn mưa, nước làm mờ hết hai mắt kính, áo thì đã sũng từ lâu. Cuối cùng, khi tới được địa chỉ, thì tôi đứng hình: ngôi nhà này đã chặn lối đi bằng những thanh gỗ đóng kín, chuông thì không có, điện thoại chưa nạp tiền, wifi của trường thì có mơ mới phủ tới cái khu thành thị bậc nhất thế giới này. Tôi cho mình năm phút đứng tại đây, định thần lại, quan sát xung quanh. Khu neighborhood này đúng như những gì tôi tưởng tượng từ những bộ phim. Một hàng bánh ngọt vẫn mở ở xa, đèn lung linh và còn lung linh hơn nữa qua màn mưa đang bao phủ. Khoảng hơn chục người, trong những bộ trang phục rất trang nhã, cùng nhau dắt chó đi dạo. Vâng, họ không chạy bộ, chẳng bán hàng, chẳng lườm nguýt, mà chỉ tặng một buổi tối tuyệt vời cho thú cưng. Tôi nhắm mắt tự lẩm nhẩm, mình đang đứng giữa thế giới của những người giàu. Phố xá lặng im chỉ có âm thanh của mưa, mà trong một không gian thế này, tiếng mưa cũng trở nên du dương lạ thường. Và thế là tôi đánh liều, xin phép rất ngoan ngoãn một cặp đôi qua đường, cho tôi mượn điện thoại để gọi cho bạn tôi. Nếu ở Việt Nam, tôi biết mình sẽ bị từ chối ngay. Còn ở đây, chính nhờ cuộc gọi ngắn ngủi ấy mà tôi vào được nhà.

Tôi không tin vào mắt mình nữa. Ngôi nhà này còn tráng lệ hơn những thứ tôi đã thấy trong phim Charmed. Bao phủ mọi nơi là màu trắng, và căn bếp thì to gấp ba lần phòng ngủ của tôi ở Hà Nội. Tủ lạnh ốp sát vào tường, tôi dám chắc là cao hơn hai mét, vì khi mở cánh tủ ra, có cảm giác như đang bước vào một căn phòng khác. Ngồi nhà tĩnh lặng, chỉ còn tiếng mưa ngày càng nặng hơn. Chúng tôi ngồi tán gẫu một lúc rất lâu, complain về hệ thống tàu điện ngầm và những bậc thang, rồi thấy cảm ơn vì những con người tốt bụng của thành phố này, chứ nếu không, tôi đã phải quay lại sân bay với bộ dạng một chú chuột cống. Cô bạn còn dẫn tôi lên gác thượng, tầng sáu, hay tầng bảy gì đó. Từ đây, có thể nhìn ra được Empire State Building, và cả thành phố New York hiện lên thật phồn hoa và lấp lánh. Tôi là người yêu New York, những người bạn của tôi có mê DC, hay Boston, hay Chicago, thì tôi vẫn thích thành phố này. Và cái view này, và ôi, căn nhà này, tôi chắc trong mơ mới có được.

“Ở trường mọi người chỉ biết nhau qua phòng dorm nhỉ, có ai hỏi han xem gia thế của nhau ra sao?”
“Ừ, chúng ta cũng chỉ đánh giá nhau qua cách cư xử.”

Cô bạn chuẩn bị cho tôi một phòng ngủ rất rộng, và một phòng tắm như thế đang ở khách sạn năm sao. Tôi check email công việc, tắm một bữa thật đã sau đêm ướt mưa, và chìm sâu vào giấc ngủ.

Bốn giờ sáng tôi tỉnh dậy, ăn nốt cái bánh mỳ thịt bò mình đã mua từ trước, tự đóng cửa rồi đi, không quên thả vào phòng cô bạn một tờ thiệp cám ơn. Trái với expectations của tôi, trời vẫn mưa tầm tã. Lại hai chiếc vali, không ô, không xe (sinh viên nghèo, lấy đâu ra tiền trả cho những chiếc taxi màu vàng), tôi vội vàng chạy mưa nhanh trên phố. Khu phố này lát gạch rất đẹp. Tôi băng qua ngã tư, bước qua một cửa hàng bánh ngọt. Ông chủ đang ngồi ở mái hiên, chúc tôi một ngày tốt lành. Và một lần nữa, tôi lại mỉm cười ấm lòng với cách cư xử của một New Yorker khác.

Trời còn chưa sáng, tôi quay lại tàu điện ngầm. Bác lao công thấy tôi khệ nệ hai vali, bèn giúp tôi mở cửa để bước vào subway (tất nhiên sau khi tôi đã quẹt vé), và còn tận tình chỉ đường, đi lối này sẽ có thang máy, rồi đi tàu A thì thẳng tới Port Authority. Nhờ những chỉ dẫn ấy mà chuyến đi của tôi suôn sẻ hơn rất nhiều. Chưa kể, tới bến Port Authority, còn có một cô cũng nhiệt tình dẫn đường cho tôi tới tận bến xe buýt ra sân bay.

Mưa vẫn ướt. Và chuyến đi này chắc ngốn năng lượng của tôi gấp năm lần cái bánh mỳ thịt bò. Nhưng nhờ thế, biết được bao nhiêu người dân New York thân thiện, tốt bụng, để cho trước khi rời một nơi “đất khách” về với “đất mẹ,” tôi đã mong được gặp lại họ ba tháng sau.

Đăng tải tại Abroad, Everyday I Grow A Bit More, in America, Travel Diaries | Thẻ , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

“IDA:” The Aesthetics of Loss

I have always a strange fascination for the “Best Foreign Film” category at the Academy Awards. These non-English-speaking motion pictures take me out of the lavish spectacles and the “American” ideologies in Hollywood films, presenting a more diverse portrayal of world cultures through unique perspectives. The latest winner of this award is “Ida,” a Polish visual masterpiece whose theme of loss is unfolded by breathtaking cinematography.

[content spoiler]
“Ida,” directed by Pawel Pawlikowski, set in 1962, is about Anna (Agata Trzebuchowska), a young nun who is about to take her vow. Visiting her hedonistic, self-indulgent aunt, Wanda (Agata Kulesza), before the ceremonial, Anna finds out that her real name is Ida Lebenstein, and that she is Jewish. The two women begin a journey to find the bodies of Ida’s parents. Feliks Skiba, a Pole who is illegally occupying Ida’s old house, confesses that he killed Ida’s family and Wanda’s son. After taking the parents’ bodies to the burial place, they part. Wanda, again, indulges herself in alcohol and sex, before committing suicide all of a sudden. Ida decides not to take the vow, instead trying to dress up as Wanda and having a short affair with Lis, a saxophone player they met before. Contrary to an expected “happy ending,” at the end of the film, Ida, having left Lis, is shown wandering in confusion, disorientation and aimlessness.
[end of content spoiler]

Summarizing the storyline of “Ida” is not easy, since the narrative is structured rather as a network than as a linear track. Despite having few characters and action-packed scenes, it is the complicated intersections between memories and reality, religious ideologies and worldly desires, naïve purity and self-indulgence that give weight to the film. To make sense of “Ida,” it is essential to anchor the film in its historical context. Although not explicitly mentioned, it is the Holocaust and Stalinism that shapes the narrative. According to David Denby in “The New Yorker:” Between 1939 and 1945, Poland lost a fifth of its population, including three million Jews. In the two years after the war, Communists took over the government under the eyes of the Red Army and the Soviet secret police, the N.K.V.D. Many Poles who were prominent in resisting the Nazis were accused of preposterous crimes; the independent-minded were shot or hanged.” If the convent is a place of safety and oblivion, in which Ida’s identity is not of importance, the world into which Ida is entering carry deep traces of the past. Her visit to Wanda becomes a journey to rediscover her history and identity. Pawlikowski chooses to portray a great racial trauma through a personal perspective, using Ida’s individual loss to signify a collective memory, thus enforcing connectivity and intellectual thoughts. The road trip, filled with long takes and still postures, having few actions and dialogues, is meant to create an atmosphere, a blank state of loss, an emptiness felt by Ida transgressing the silver screen. She realizes that she has been living on the superficial side of life, understanding no complications of her true “self.”

Although throughout the journey, Wanda appears to be the stoic and stable of the two, it is she who breaks down in tears when the death of her son is brought up. Ida remains composed, since she was too young when the trauma occurred; but Wanda has been living a whole life haunted by loss. We discover that the journey is not merely for Ida’s aspirations, but also a painful adventure Wanda voluntarily joins. Two women, one who lost her son and one her parents, console each other on the hospital’s bench, a scene that is strikingly painful. They resemble two unmatched jigsaw pieces put together attempting to mask the gap; but instead, the loss is doubled, intensified.

The most wonderful aspect of “Ida” is cinematography and production design, which lends much to the “aesthetics of loss.” Subtlety becomes power. “Ida” is full of long takes, which creates a contemplative ambience for the characters and viewers. These long takes often contain only “micro-actions,” placed in the middle of a still background, which signifies delicate slices of character psychology. When Ida first visits her aunt, a shot of the novice nun sitting alone in the kitchen, in which only her fingers slightly trembling while everything remain still, contains a rich layer of meaning. The trembling hand suggests the inner shakiness of her psyche, discovering a major truth about her identity. It also thickens the quest to find her parents and dig up her long lost past. The little space it occupies within the screen, compared to a company of still objects that takes up the whole frame, allegorizes Ida’s seclusion from society and the voiceless state she acquires.

Another stylistic tactic Pawlikowski uses is the unbalance of mass and volume in terms of shot composition. In many shots, people seem to be absorbed into the background, being either natural landscape or architecture. Before the two women and Feliks enter the forest to dig up the corpses, they walk across a vast field. In this shot, the three humans resemble three little dots trying to navigate the landscape in despair, as if they would never reach their destination. Since nature seems emotionless while the three individuals are disturbed by guilt and eagerness, this composition creates an energetic unbalance. In the opening scene, Ida and the sculpture she is carving also appear as two very thin vertical lines, in the middle of a wide screen. The thinness reduces the two subjects into mere surfaces, producing an unbalance in volume. Some other shots are unique in the way that the characters’ heads are shown on the bottom of the frame, while “functionless” spaces of the sky or the building occupy vast areas. This style, which is foreign to classical Hollywood aesthetics, serves to signify the unanswered question (Where are Ida’s parents and who killed them?), an uncomfortable blank space in memory. These compositional unbalance adds to the meaning of the film – heightening the sense of loss, highlighting the disturbance of trauma and deepening the urging quest for historical truth. In addition, abrupt transitions between scenes, often from a dense shot to a sparse one, from a rich soundscape to a void one, also emphasize discomfort. This visual and aural discomfort incites a sense of shortfall; viewers are invited to enter the diegetic world, viscerally experiencing the feeling of “loss.”

In a review on “The New York Times,” Scott calls the film “a cosmos of guilt, violence and pain.” The trope of guilt is felt most remarkably during Feliks’ confession in the forest, while digging up the bodies of Ida’s parents. The visual placement of the shot adds to the atmosphere. Feliks is in a dark hole, standing below the two women, without accompaniment by his family. It seems as if he could be swallowed by the earth, by his crime, by the guilt that has haunted him years after years. According to the promise, he can finally have Ida’s house, but will he find peace after trading human values for material benefits?

At the final segment of the film, Wanda commits suicide out of the blue. We are still engaged in the lively music in her apartment when she suddenly jumps out of the window. Perhaps Wanda has been self-indulgent to distract herself from the loss of her son. Now, having discovered the truth, she is brought back to reality. She might choose to end her life because of her guilt for the hedonistic lifestyle, or maybe of the serene state she can finally achieve. Ida, on the other hand, refuses to take the vow. The complications of the “real world” fill her with doubt about life inside the convent. Is it really living? She decides to dress up as Wanda, wear her lipstick and her high heels, and sleep with Lis. After Lis mention a bright future – getting married, having children and living “life as usual,” the audience might expect a fairy tale-like “happy ending.” But Pawlikowski has betrayed this expectation. Ida leaves the man and wanders aimlessly in space. Perhaps, Ida’s attempt to “be normal” is just a vain attempt to fill in the blanks of her past. In the long run, the loss of identity, of her family and her people’s history remains too big to fulfill. The final shaky tracking shot recalls “The 400 Blows” (1959), a film of the French New Wave, suggesting an uncertain future, closing the film with pre-built discomfort and a series of unanswered questions. Ida will become one of many other lives on earth, who are still tumbling between different life ideals, different futures, different choices.

In short, “Ida,” is rich in both content and aesthetics. The theme of loss is portrayed with subtlety, hiding in and out of every frame, but can long haunt the audience hours and days after the film has ended.

– Sieu Nguyen –

Đăng tải tại Uncategorized | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Những nỗi buồn dài và đặc: Câu chuyện con tàu chạy ngược theo dòng Hudson

8:10 AM. Chuông báo thức đổ. Tôi quơ tay vớ lấy chiếc điện thoại để tắt. Ánh nắng từ cửa sổ rọi vào phòng. Nắng sớm luôn đẹp và trong một cách kì lạ. Nắng chiếu vào từng khuôn mặt đang nằm trên thảm dưới sàn. Mọi người vẫn đang ngủ say. Tôi nhận ra điều đau lòng nhất của buổi sáng này: tôi phải dậy ngay lúc này, rồi đánh thức Ngọc, dọn đồ và lên subway đến Grand Central, bắt chuyến tàu 9:43 về Poughkeepsie.

Khi còn ở Việt Nam, khái niệm “di chuyển” mang một ý nghĩa hẹp. Đi từ nhà tới trường, cũng chỉ là vài bến xe buýt, cũng chỉ là một sự thay đổi địa điểm tạm thời. Đi từ Hà Nội vào Sài Gòn, tốn nhiều thời gian hơn, giá phương tiện đắt hơn, nhưng về cơ bản vẫn chỉ là sự thay đổi địa điểm. Những người mà ta gặp đều là người Việt Nam, tuy có sự khác biệt Nam – Bắc nhất định về lối sống, song phần nhiều là chia sẻ với nhau chung một nền văn hoá, một cách suy nghĩ.

Từ khi đi du học, tôi mới thật sự cảm được sức mạnh của việc “di chuyển,” cũng như đặc điểm của mỗi “không gian.” Ở Mỹ, mỗi lần di chuyển từ nơi này đến nơi khác, tôi cảm giác mình chuyển hoá thành một con người mới. Không biết có cách nào để miêu tả những cảm giác này cho rõ hơn, nhưng tôi thấy lối suy nghĩ của mình thay đổi, sự nhạy cảm của mình thay đổi, mức năng lượng của mình thay đổi, tình cảm của mình thay đổi, thậm chí thi thoảng, lý tưởng sống của mình thay đổi. Không gian bây giờ không chỉ là một môi trường để con người đứng vào và kết nối với nhau. Đối với tôi, không gian kết đặc những mối quan hệ này, luồn sâu vào từng giác quan và gõ cửa từng dòng suy nghĩ, đan kết với sự tồn tại của tôi như một mối quan hệ cộng sinh rất chặt.

Chính vì thế, mỗi lần di chuyển đi và về, tôi luôn cảm thấy một cú sốc không hề nhỏ về tinh/tâm thần. Như kiểu phải trút bỏ một lớp da để biến thành một con người mới. Và rõ ràng, tất cả các quá trình transformation/transition đều chẳng bao giờ dễ thở.

Lay chị Thư dậy để chào tạm biệt. Luôn có cảm giác chị Thư cứ gầy và mỏng, nhưng mà chị ôm chặt ấm quá. Rồi qua phòng anh Thụ, cũng chỉ biết ôm rồi phải quay đi. Chắc có lẽ suốt cả tuổi thơ và đến cả bây giờ, mối quan hệ giữa tôi và ba mẹ chưa bao giờ thật sự thân thiết, hoặc thân thiết đủ đến mức để thấy “gia đình” là nơi tôi muốn về. Tôi thấy điều này ở hai con người này. Thấy mình được quan tâm, được bảo vệ, được nũng nịu, được lắng nghe, được thấy mình bé nhỏ và cảm giác an toàn về việc đó. Cái ý tưởng nhìn những người bạn của mình như cha như mẹ của mình thì vừa kỳ cục vừa có phần hỗn láo, nhưng trong cả cuộc đời mình, đấy là cách tôi lấy lại được thăng bằng và anchor my soul.

Từng cái cửa đóng lại. Những tiếng sập và những cái núm cửa bất động bắt đầu cuộc hành trình “di chuyển” này.

Hôm nay là một ngày lạnh. Không phải nắng lạnh như những ngày mùa đông New York. Chỉ là gió và mây, những thứ hao hao mùa đông Hà Nội những năm 2003 mà bây giờ đã trở nên khan hiếm. Subway không quá đông, nhưng chuyến tàu Metro North thì lại đông bất ngờ vào một buổi sáng cuối tuần như thế này. Tàu Metro North thường có hai hướng ghế trong một toa, một nửa quay về phía đầu tàu đang di chuyển, một nửa quay về phía đuôi. Vì tất cả mọi người đã ngồi lên hết cái nửa đầu kia, tôi và Ngọc bèn chọn một chỗ ngồi theo hướng ngược lại: nhìn về New York City và thấy mình đang đi lùi.

Tôi dựa đầu vào cửa kính, cắm tai nghe và ngắm dòng Hudson trôi. Học sinh ở Vassar có hay nói với nhau, “Đã bao nhiêu lần bạn khóc trên chuyến tàu Metro North dọc dòng Hudson?” Hồi trước, tôi còn chưa hiểu, vì đối với tôi, chuyến tàu cũng chỉ là một chuyến tàu chứ đâu có gì khác. Nhưng tôi ngày càng nhận ra, chuyến tàu này cứ như cố dứt cái mối tơ ràng buộc giữa tôi và New York City, kéo tôi về với những khoảng trống của sự cô đơn đến cùng cực. Ngồi ở hướng này, thay vì nhìn về những thứ trước mắt, tôi lại giữ ánh nhìn của mình tại những đỉnh toà nhà chọc trời, những cây cầu nhộn nhịp xe cộ. Và rồi thành phố dần nhỏ đi, không gian trả về cho trời và nước. Ở gần New York, dòng Hudson còn chảy mượt với những sóng là sóng, nhưng lên Poughkeepsie chỉ thấy những tảng băng vỡ đang trôi nổi. Cuộc sống ở đây cứ như đóng băng lại vậy.

Vậy là tôi đã phải “di chuyển.” Di chuyển từ một ngôi nhà mà tôi ở với mười mấy người Việt Nam, trở về ngôi trường mà tôi vẫn chưa hết thấy lạc lõng vì mình không phải người Mỹ. Di chuyển từ cái đêm mà mọi người hát với nhau những bài hát Việt Nam, trở về nơi mà mọi người đánh giá music taste của nhau, và cứ nghe mainstream là bị coi thường. Di chuyển từ những câu chuyện cứ tuôn ra tự nhiên, trờ về với nơi mà cái sự nông cạn của những cuộc trò chuyện xã giao làm tôi cảm thấy mình thật giả tạo. Cứ mỗi lần ở với người Việt Nam, lâu hay ngắn, là tôi lại bị sốc khi quay trở về trường. Tôi vẫn tự hỏi, sao mình vẫn sống sót được trong cái nền văn hoá này? Bấy lâu nay, tôi cố vùi đầu vào học hành để quên đi những vết nứt trong mối quan hệ xã hội ở đất nước xa lạ và lạnh lẽo. Nhưng mỗi lần tôi được ở với những người Việt Nam, những con người “của tôi,” tôi lại được nhắc nhở rằng mình là ai, mình đã, đang và muốn có những mối quan hệ sâu sắc và thân thiết đến nhường nào. Sự tương phản quá khác biệt làm tôi sốc và depressed rất nhiều. Lần nào cũng thế. Nhiều đến mức tôi không còn đếm nổi những đêm tôi ngồi khóc vì “nhớ” cái identity của bản thân mình, “nhớ” cái gốc văn hoá của mình.

Và rồi tôi lại tự hỏi bản thân, chẳng lẽ tôi không nên đi New York City nữa, cứ ở trường để cho tinh thần mình ổn định và an toàn. Nhưng cứ sống như thế thì khác gì bức tượng. Nước Mỹ đâu có thể tạc tâm hồn tôi thành một bức tượng vô tri?

Nước Mỹ đã từng là một giấc mơ chỉ có hoa lệ mà thôi. Nhưng giờ nước Mỹ trở thành một con dao hai lưỡi. Tôi đang được học những thứ còn mơ tôi mới được nghe đến ở Việt Nam. Nhưng để đánh đổi, tôi chuốc vào mình những nấc cô đơn, cô đơn đến mức mỗi lần, chỉ cần vài giờ được ở xung quanh người Việt Nam, “làm người Việt Nam,” là tôi lại cảm thấy như được truyền một luồng điện mạnh qua người. Chính vì đây, khi quay trở về với trường lớp, tôi sốc. Bần thần. Rệu rã.

Trên chuyến tàu chạy ngược, tôi tự nhiên nhớ lại tất cả mọi thứ tình yêu của mình. Chẳng biết có phải tình cờ, nhưng hôm nay playlist shuffle toàn những bài đầy kỷ niệm. Đặc biệt, khi nghe thấy nốt nhạc đầu của “Never Let Me Go,” Lana Del Rey, tôi cảm thấy như break down và vỡ vụn. Tôi phải dựa vào kính cửa sổ để tự thu mình vào góc riêng. Tôi sợ. Lana luôn toxic với tôi, nó khiến tôi, một lần nữa, “di chuyển” giữa vùng cảm xúc này với vùng cảm xúc khác. Nó đưa tôi về với những ngày ngay trước spring break của năm ngoái, cũng tròn một năm rồi, những đêm thức trắng và những buổi bình minh. Tôi chìm trong những thứ say đắm, nhưng bây giờ thì chẳng khác gì mấy tảng băng trôi ngoài kia.

Lại nói về tình yêu, cũng có những khi bạn tìm gặp được một ai đó mà bạn thấy họ thật sự hợp với mình, chia sẻ quá nhiều điểm chung, tính cách thì không phàm trần. Nhưng bạn phải ngăn bản thân khỏi việc thích họ, vì đơn giản, bạn mong một thứ lâu dài, và bạn biết chắc rằng dù có một thứ tình yêu nào đó, đây cũng không phải là mối tình cuối của cả hai.

Hình như khi người ta buồn, mọi thứ xung quanh đều như chống lại ta. Hoặc chẳng qua thực tế thì quá khắc nghiệt và độc ác. Tôi bắt đầu đi làm shift đầu tiên tại gym – spring break work-study job. Hồi winter break cũng làm ở đây, nhưng tất cả các supervisor đều tốt bụng, khi thì cho về sớm, khi thì cười tâm sự. Spring break có một ông supervisor mới, và hôm nay tôi mới được trải nghiệm thế nào là “cái ác chỉ có trong truyện cổ tích.” Chuyện là, cuối ngày, chúng tôi phải lau các máy chạy. Đối với các supervisor khác, chúng tôi chỉ cần lau tay cầm, bảng điều khiển, và ghế ngồi, những chỗ có thể có mồ hôi để người dùng sau không thấy bẩn. Hôm nay, ông supervisor này đi vào sau khi chúng tôi đã lau xong hết, đạp chân vào đế máy, rồi lấy ngón tay quệt qua bàn đạp, giơ lên, bảo là nhiều bụi thế này. Rồi ông ấy bắt chúng tôi cúi xuống lau, xịt vào từng kẽ máy, dù là nhỏ nhất, rồi lau mạnh đến khi khăn trắng biến hết thành đen.

Chẳng hiểu sao phải đi lau bàn đạp, trong khi đấy là nơi mọi người giẫm giày lên, luôn luôn bẩn. Rồi thì thái độ khinh người, cách nói năng dính chữ, đi lại khập khiễng, thật sự chỉ có thể liên tưởng tới mấy nhân vật mẹ kế không có trái tim.

Buồn và ức. Tôi về nhà sau shift làm và nằm co lại trên giường. Tại sao nhiều người lại đáng sợ như vậy? Tại sao nước Mỹ có nhiều thứ đáng sợ như vậy? Tại sao cái trường này có những điều khó hiểu và tồi tệ thế này?

Tôi từng nghĩ đến chuyện transfer đấy. Nhưng biết đâu, đây là cái văn hoá chung, và nếu có chuyển sang trường khác, thì tình hình cũng chẳng khá khẩm lên là mấy.

Tôi mê man cả buổi tối. Thỉnh thoảng giật mình, ngồi dậy, cảm thấy cảm xúc dâng lên nghẹn họng, nhiều quá và đặc quá, không chịu được nữa, đành oà khóc như một đứa trẻ con. Rồi phải ôm chăn che mặt che đầu. Rồi tôi lại cố gắng thở đều. Có những ngày cả thế giới chống lại mình, và đấy là một điều bình thường mà ai cũng gặp phải thôi. Không sao cả.

Nín.

Rồi lại nghĩ đến chuyện Thanksgiving, anh Thụ bỏ phòng khách sạn, bắt Uber giữa đêm từ Boston lên nhà anh Tâm ở Tufts để cùng chúng tôi nấu mỳ, nói chuyện và đi ngủ, rồi chỉ để tạm biệt trong lúc lơ mơ 4 giờ sáng ngày hôm sau. Cái cảm giác một buổi sáng thức dậy và thấy phòng trống không, và thấy mọi thứ đều di chuyển mà mình thì bị bỏ lại một mình, tủi thân lắm. Và cứ nghĩ đến những sự chia ly này, lại không thể ngừng được nữa…

2:03 AM. March 16, 2015.

Đăng tải tại Abroad, in America, Comes from the Heart, Everyday I Grow A Bit More, Travel Diaries | Thẻ , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

“Birdman,” the frontline between theater and cinema.

Leading the Academy Awards this year with 9 nominations, it was no surprise that “Birdman (or The Unexpected Virtue of Ignorance),” directed by Alejandro Gonzalez Inarritu, brought home four prestigious awards for Best Original Screenplay, Best Cinematography, Best Director and Best Picture. The film reaches an admirable balance between content and aesthetics, between reality and symbolism, serving as an in-depth exploration into the concept of artistry and a witty criticism of present-day commercial Hollywood blockbusters.

The protagonist of the film is Riggan Thomson (Michael Keaton), who used to be famous for his role in the Hollywood blockbuster trilogy, “Birdman.” Riggan is trying to rebuild his career with a Broadway play, an adaptation from Raymond Carver’s “What We Talk About When We Talk About Love.” Unsatisfied with one of his cast members, Riggan caused an accident to replace him, whose role is later filled in by Mike (Edward Norton), a volatile method actor. Although it seems to be the perfect choice at first, Riggan realizes that the pretentious Mike is stealing his spotlight. At the same time, he finds out that Mike and his daughter, Sam (Emma Stone), are flirting, and a well-known critic, Tabitha Dickinson (Lindsay Duncan), is more than willing to “kill” his artwork. Amidst this mess, the imaginary “Birdman,” representing Riggan’s longing for his past career, persuades him to come back to Hollywood. A minor accident on his last preview night causes Riggan to run across Times Square wearing only underpants, an event that becomes viral on the Internet. On his opening night, Riggan decides to use a real gun on the stage, shooting himself in the nose, which leads to his hospital treatment but tremendous acclamation from both the press and the audience.

The central theme of “Birdman” is artistry, which Inarittu chooses to explore in depth instead of breadth. The film revolves around the tension between film and theater, two visual art forms, which has been going on for decades, and the artist’s desire for fame and recognition. The representative of film – or more specifically, Hollywood films – is the voice inside Riggan’s head, that of the inner “Birdman” in him. This imaginary character talks Riggan into making another blockbuster, giving him superpower, flying him over New York City, injecting into his subconscious a sense of self-superiority over ordinary people. It serves as a symbol for Riggan’s pride. Furthermore, this “Birdman” also functions as a subtle criticism of the star system in Hollywood, who are revered as Gods but, in essence, normal human beings. The magnificent scene in which Riggan hovers in the sky also refers to the overuse of special effects in blockbusters, a tactic commercial filmmakers use to attract young theater-goers in this age of the “world picture,” the domination of the image. The specific choice of the character “Birdman” also echoes “Batman,” “Spiderman,” “Superman,” and “Ironman,” a criticism of countless superhero blockbusters that are known more for visual pleasure than creative content. Riggan, widely known for playing “Birdman,” dazzled by the ephemeral spotlight, is now struggling with life and on the verge of losing his career. Easy come, easy go. The short-lived memory of celebration is fading.

On the other side of the frontline is theater – Riggan’s attempt to relive “What We Talk About When We Talk About Love.” The reference to Constantin Stanislavski’s method acting, which is based on improvisation, is a sharp contrast to Riggan’s controlling personality. This controlling, perfectionist personality is also expressed in Inarritu’s aesthetic choice of filming in one seemingly long take. The camera moves constantly, but we always find ourselves in the same house or just around the corner of Times Square. The overwhelming sense of claustrophobia haunts the film from the beginning to the very end. Is it just the architecture of the theater or the complications of Riggan’s mind, trying to transform his “Hollywood mindset” into “theater sensibilities”? The (seemingly) long take, bearing influence from “The Russian Ark,” is also a rebellious move against the cut, the signature characteristic of cinema. It turns “Birdman” into more of a theater performance than a traditional film.

I would call Riggan’s shot at his nose in the end, the climax of the film, a masterpiece. It was definitely foreshadowed, given Mike’s prior suggestion to use a real gun instead of a fake one. However, it still comes as a shock to the audience, both in the diegetic world and in our real theater space. Throughout the movie, it is apparent that Riggan’s sole purpose in producing the play is to regain the spotlight. Evidence is found in his envy for Mike, his quarrel with Sam, his superhero fantasy and his over-obsession with critic Tabitha Dickinson. Riggan’s decision to use a real gun, to sacrifice himself for the act, is a revolution. He disregards the superficial value of fame and truly immerses himself in the play, blending his body and spirit into the flesh of the story. He has finally achieved it: becoming the character. The tremendous number of positive reviews Riggan receives afterwards, I believe, is not in his plan. Fame, now, becomes the effect of an excellent performance, not the motivation for a good act. Perhaps Riggan realizes this after his scandalous underwear video went viral online – is it the kind of fame he desires and deserves? The shot also reminds me of “Black Swan,” another great film about artistry and self-sacrifice. Different from Darren Aronofsky’s movie, in which the wounded Nina falls down the stage in slow motion, seen from above, in “Birdman,” we do not see the actual pain from the front. We observe the character from behind. It seems as if Riggan has stepped forward from us, from “our level,” to achieve what Tabitha Dickinson calls “super-realism,” a new kind of Method acting. He has transformed from a Hollywood actor to a true Broadway artist. It is a moment of absolute silence, for us viewers to ponder over the definition of artistry. Is it a game of give and take – you have to hurt yourself to give a visceral quality?

Shot from behind, the film also does not immediately reveal which body part gets shot. We viewers are left questioning – did he die or did he not? I sighed with relief realizing that he is still alive. But the funny part comes in – his nose is broken. This is no coincidence, since the nose is a prominent feature of Birdman. Shooting himself in the nose, Riggan can finally destroy his inner “Birdman,” the last trace of Hollywood, of the fame-craving actor. Riggan sets himself free from the temptation to go back to superhero film, to superficial acclamation. At the very end of the movie, we see Riggan climbing onto the window ledge, then his daughter, Sam, looking up to the sky and smile. We never know what happened at the window ledge. We never know where Riggan is. Given the delicate blend between reality and fantasy throughout the film, the viewers now have two options: going with reality or joining the fantasy world. In a reality perspective, Riggan might have killed himself by jumping out of the window, freeing his spirit from the superficial material world. However, Sam’s smile invites us into the fantasy world. This surrealist taste implies that Riggan has become a true “Birdman,” instead of merely playing a role in a Hollywood movie.

There are a lot of remarkable elements being used in “Birdman.” The drumbeats in the background music really create a singular ambience of the theater – everyone is a rush, everything is at stake. They complement Riggan’s tangled psychological world. The use of dark colors – green and black – in the theater space, compared to the warm yellow of New York City fantasy, visually draws the contrast between reality and imagination. However, in my opinion, the film also possesses certain weaknesses. First, I would question the character Tabitha Dickinson. She wants to destroy his Broadway career with an article, before even seeing the play. Her sole motivation comes from her contempt for Hollywood actors. Despite its justifiability, how can a prejudiced critic succeed in the world of journalism? She is portrayed as an extremely powerful writer, but her action in the film proves the opposite – she is rather narrow-minded. The whole “Ratatuille” motif of a demanding critic who has the power to deny people’s efforts is quite cliché. Second, the alternation between reality and fantasy throughout the plotline is excellently seamless, until the taxi driver is shown asking Riggan for money. This detail crosses the line and destroys the subtlety of this bridge, providing overt proof that Riggan has been dreaming the entire time. Indulging the ambiguity, from my viewpoint, would be a better choice.

Despite a few weaknesses, I find “Birdman” an excellent fit for “Best Picture.” It embraces both content and style, and does not let one triumph the other. At the end, it seems as if Riggan has escaped from Inarritu’s film itself – we never see him afterwards. He has escaped the widescreen of the cinema, the diegetic world, and perhaps, is hovering in glee out there in another world that we can only fantasize about.

Sieu Nguyen.

NY, March 1, 2015.

Đăng tải tại Film Reviews | Thẻ , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Câu chuyện “con lợn” của Trang Hạ: Nhiều người cứ tự chứng minh mình là lợn.

1. Mình đã tìm đọc bài phỏng vấn của nhà văn Trang Hạ có câu “Đàn ông về nhà chỉ có ăn – tắm – ngủ thì khác gì con lợn.” Thấy câu này lọt thỏm giữa một bài phỏng vấn dài, chứa nhiều thông điệp tích cực và tư tưởng hiện đại, không hiểu sao mọi người không bàn tán về cái thông điệp tổng quan của chị ấy, mà lại thích bới móc chỉ một câu.

2. Xét về ngữ nghĩa, câu này đâu có mang chỉ một nghĩa “Tất cả đàn ông đều về nhà ăn – tắm – ngủ, khác gì con lợn”? Có thể hiểu câu này là “Những người đàn ông về nhà mà chỉ có ăn – tắm – ngủ thì khác gì con lợn.” Giống như “Học sinh về nhà chỉ chơi game – xem TV thì khác gì con lợn,” có thể ám chỉ đến một bộ phận lười học, hưởng thụ thôi. Tất nhiên, nếu chị ấy nói theo ý này, thì thêm một chữ “mà” sẽ rõ nghĩa hơn.

Nhà văn Trang Hạ

3. Và cứ giả sử chị Trang Hạ nói theo ý nghĩa kia, cái ý nghĩa mà mọi người đang tranh cãi ấy, thì nó có sai không? Đây là một thứ tư tưởng quá phổ biến ở Việt Nam và nhiều nền văn hoá châu Á khác. Đàn ông đi làm, về nhà chỉ việc nghỉ ngơi. Đàn bà ở nhà chăm lo cơm nước. Hiện nay, tư tưởng này vẫn còn, và nhiều là đằng khác. Có những người đàn ông làm việc nhà, nhưng mấu chốt là, họ vẫn nghĩ đây chỉ là “giúp vợ.” Tức là trong hành động và thực tế, thì có chút ý nghĩa thiết thực đấy, nhưng trong hệ tư tưởng vẫn quan niệm, việc nhà là của vợ, mình chỉ “giúp” thôi, “gánh vác đỡ” thôi. Chao ôi, cái sự phân biệt giới tính và sự hào phóng tỏ vẻ. Hãy nghĩ việc nhà cũng là của mình, là mình “làm” chứ không phải đi “giúp” ai khác, rồi hẵng lên mạng mà phản pháo chị Trang Hạ.

4. Cái làm mình bực mình nhất là cách phản biện lại của một số (đông) người. Có anh nhà thơ gì đó viết: “Chưa làm lợn nên hẳn cô không biết đó thôi, làm lợn cũng chẳng sung sướng gì đâu cô ơi. Một ngày phải ở cơ quan ít nhất 10 tiếng, rồi phải lo toan tính toán đủ thứ. Lúc nào cũng có cả một gánh nặng tài chính, gánh nặng công việc trên vai. Nhiều lúc cũng muốn… xõa, muốn đổi cho vợ, mình làm vợ, vợ làm lợn nhưng vợ nhất quyết không chịu đổi. Suy cho cùng vợ làm lợn không thể bằng chồng, mà lợn làm vợ không thể bằng vợ xịn được. Xã hội tự nó đã phân công như thế. Tự nhiên đã ban cho mỗi phái những đặc điểm như thế.” Xin hỏi, đàn bà thì họ không đi làm cơ quan và phải lo toan đủ thứ? Xin hỏi đàn bà thì không có gánh nặng công việc? Và hơn hết “XÃ HỘI TỰ NÓ ĐÃ PHÂN CÔNG NHƯ THẾ. TỰ NHIÊN ĐÃ BAN CHO MỖI PHÁI NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NHƯ THẾ.” Một dấu hỏi lớn. Anh là phát ngôn viên cho “Tự nhiên” à? Ở đâu ra mấy cái tư tưởng cổ hủ lạc hậu ngu ngốc này vậy. Ở Việt Nam, người ta cứ hay dựa vào mấy cái “Tự nhiên” để justify cho sexism, racism, classism nhé. Có một ông còn dung 4 phẩm chất “Công – Dung – Ngôn – Hạnh” để đánh giá phụ nữ. Hai không mười lăm rồi.

Những comments như thế này…

5. Một số bài báo còn dẫn comment của những người phụ nữ, bảo rằng tôi thích làm việc nhà, tôi thích chăm sóc chồng tôi khi chồng đi làm về. Cũng thông minh. Lấy lời cả đàn ông và phụ nữ, để chứng minh chị Trang Hạ sai cả đôi đường hả? Phụ nữ họ cũng sai được. Vì phụ nữ ở trong một xã hội thì họ sẽ có tư tưởng của xã hội đó. Đúng là có nhiều người thích làm việc nhà, thích ở nhà may vá nấu nướng. Chẳng có gì sai. Nhưng một phần của cái sở thích này là từ tư tưởng tạo thành. Với lại, chị Trang Hạ chỉ nói thôi mà, chị Trang Hạ có đi đến từng nhà ép vợ anh này phải đi làm công ty và ép anh đó phải nấu ăn giặt giũ đâu. Chị ấy đại diện cho một tư tưởng mới. Còn tuỳ cá nhân, ai thích đi theo nề nếp cũ, thì nói thật, làm sao mà cấm được.

6. Nhiều người bảo chị Trang Hạ là “đàn bà có một tí kiến thức là sồn sồn lên đòi quyền bình đẳng.” Hơ. Vẫn là cái tư tưởng nghĩ mình hơn cấp và đàn bà hạ cấp đấy. Đừng tự chứng minh mình còn kém cỏi hơn con lợn nữa mấy người này ạ.

7. Nhiều người chê chị Trang Hạ “xấu” và bảo thật là diễm phúc không phải làm con lợn cho chị ấy. Quay sang dùng nhan sắc để hạ thấp nhau xuống? Cái xã hội Việt Nam nó đã quá quá coi trọng hình thức rồi, làm ơn đừng phát ngôn những câu thế này nữa. Một cái xã hội mà người ta nhìn ngoại hình để hâm mộ chứ chẳng đánh giá nội dung. Một cái xã hội mà người ta nghe mấy cái dạng bài hát nhảm nhí nhưng mà chạy theo một đứa chỉ vì nó đẹp. Một cái xã hội mà người ta đưa tin cái chết của một người chỉ vì họ xinh. Trí tuệ bị vùi dập bởi những cái thứ phấn son.

8. Cuối cùng, nhiều người Việt Nam thích nhảy chồm chồm lên vì lòng tự tôn quá. Thấy chị Trang Hạ nói “đàn ông,” ngay lập tức đứng lên bào chữa. Thấy người ta chê “người Việt Nam” có tính xấu gì đó, ngay lập tức đi chửi hội đồng. Thấy người ta viết một bài báo về trường chuyên, học sinh trường chuyên ngay lập tức comment coi thường. Này, trước khi nói gì, hãy cố gắng thoát ra khỏi cái social roles của mình để có một góc nhìn objective nhất có thể. Think critically before you say something. Nếu họ nói đúng, thì hãy công nhận cho họ, chứ đừng tự biện minh cho mình. Luôn nên nhớ, mình là một cá nhân chứ không mang góc nhìn lớn, lớn đủ để nói cho cả xã hội.

9. Và cứ nghĩ đi, xem ở Việt Nam, còn sự phân biệt giới tính không? Không kể hết ấy. Xin được quay lại với status Emma Watson của mình hồi tháng 9. Nhắc lại: ở Việt Nam, người ta chỉ quan tâm tới cái gì thực dụng thôi, cái gì “giải quyết được vấn đề” ấy. Nhưng mà có những cái “lỗi sai từ trong hệ thống,” thì phải nghĩ, phải nhận ra nó trước, để thay đổi dần dần, chứ không phải cứ đi tiếp và đắp bandage lên mấy cái vết thương thì sẽ chữa lành hết mọi thứ khác.

10. À ha, vậy cái speech của Emma Watson hồi ấy cũng có ảnh hưởng tới đàn ông Việt Nam nhiều ghê ha. Ai cũng tự nhận mình là lợn. Quả là một phong trào đầy tiến bộ.

Đăng tải tại Talk about Society | Thẻ , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vài thứ cần mang khi pack đồ đi du học

Trong cái mùa mà tất cả mọi người đều lần lượt bay bay sang bên kia địa cầu thì mình cũng muốn viết một tí về những đồ cần mang khi đi du học. Đây là từ chính trải nghiệm cá nhân của mình thôi, còn tất nhiên, mỗi người ở một khu vực khác nhau, thời tiết khác nhau, điều kiện đi lại mua sắm khác nhau thì sẽ có những sự điều chỉnh nhất định. Năm ngoái, mình cũng lập một list những đồ cần mang, chi tiết đến tận cái quần màu gì, cái áo hình gì cơ, nhưng mà sang bên kia mới thấy bao nhiêu thứ quan trọng để quên ở Việt Nam, tiếc lắm.

Và cái thứ mình hối hận nhất vì đã không mang chính là:

    1. Thuốc mỡ tra mắt Tetracycline 1%

Ở Việt Nam thì cái tuýp thuốc mỡ này chữa được mọi thứ không chỉ mắt, có vết thương nào trên người, mình chỉ cần bôi vào là nó sẽ lành nhanh cực nhanh. Hôm bay năm ngoái, mình đã để ra bàn nhưng mà quên không cầm theo, thế là tiếc mãi. Ở Mỹ có 2 lần mình bị sưng môi, tận 2 tuần lận, mà nó không khỏi, khổ ơi là khổ, chỉ ước gì có tuýp thuốc mỡ thôi. Amazon thì không có, bạn bè không có, các chị cũng không mang. Khóc ra nước mắt luôn. Bảo mẹ gửi chuyển phát nhanh sang nhưng mà cũng quên mất.

Về THUỐC THANG thì nên mang thêm: thuốc hạ sốt Paracetamol, thuốc đau họng, thuốc bỏng, thuốc đau bụng, thuốc sát trùng khi bị thương.

Vì là một đứa thích làm đồ handmade, vẽ vời trang trí phòng, rồi tự làm thiệp gói quà, nên mình cũng cực kì tiếc khi không mang theo:

    2. Bút dạ màu, bút sáp, nói chung là các loại đồ vẽ

Đồ vẽ vời ở Mỹ quá đắt, mỗi lần mình đi siêu thị đều muốn mua hết nhưng mà nhìn giá tiền là chạy luôn. Nói chung là năm nay phải mua các loại giấy vẽ, màu dạ, màu dầu, cọ vẽ ở Việt Nam, không thì sang bên kia kiếm được bao nhiêu tiền thì tiêu gấp đôi luôn mất.

Cũng về ĐỒ DÙNG HỌC TẬP, một số thứ khác cần mang:

    3. Túi Clearbag:

Không biết các chỗ khác như thế nào, nhưng ở Vassar mình không biết mua túi Clearbag mà rẻ ở đâu. Ở Việt Nam thì lúc nào cũng sẵn túi Clearbag đựng được bao nhiêu thứ, cảm giác như chẳng bao giờ phải đi mua. Sang bên kia cũng có folder đựng đồ nhưng mà cũng không được rẻ lắm. Vì mình mang sang mỗi 3 cái túi Clearbag, cuối năm giấy tờ nhiều cứ bị để lộn xộn không sắp xếp được. Năm nay chắc phải mang 1 tỷ cái túi…

    4. Hộp bút vải

Ở Mỹ mình chẳng tìm thấy nổi một cái hộp bút vải, toàn hộp bút kim loại cứng cứng dùng hơi khó chịu. Các bạn Mỹ thì chẳng bao giờ dùng hộp bút, toàn tiện cầm tay theo một, hai cái bút đến lớp thôi. Nếu ai như mình, thích dùng hộp bút cho gọn gàng, thì mang hộp bút vải từ Việt Nam sang.

    5. Mang thật nhiều bút chì và thật ít bút bi

Năm ngoái, mình mua 30 cái bút bi Thiên Long, và vớ tạm lấy 5 cái bút chì mang đi, vì quen ở Việt Nam viết nhiều bút bi còn bút chì chỉ để dùng để vẽ bậy vào sách. Tuy nhiên, sang bên kia mình mới thấy, mình dùng bút chì 99%, còn bút bi hầu như chẳng dùng để làm gì. Cả năm dùng hết chắc đến 10 cái bút chì, còn 1 cái bút bi đầu tiên dùng mãi mãi không hết. Năm nay rút kinh nghiệm, pack 1 tủ bút chì và tẩy sang.

Thước kẻ, compa, thước đo độ, bút nhớ, máy tính bỏ túi cũng nên mang, vì nhìn chung đồ văn phòng phẩm bị đắt. Nếu không học Toán thì cũng có thể dùng máy tính để tính tiền học.

   6. Mang vở Hồng Hà

Vì mình đã dùng quen vở Hồng Hà, nhỏ nhỏ xinh xinh, có lề, dễ viết, nên mình đã và sẽ mang theo rất nhiều vở Hồng Hà sang bên kia. Vở bên kia thực ra không đắt lắm, khoảng 1 đô 1 quyển vở size to, nhưng mà là sổ, giấy mỏng, viết không quen lắm. Đặc biệt với những đứa thích đè bút như mình cho nó rõ ràng sạch đẹp thì sẽ cực cực ghét những vở giấy mỏng.

Về ĐỒ ĂN UỐNG:

    7. Bột canh i-ốt Hải Châu

Ở Mỹ chẳng có gia vị chẳng có bột ngọt gì cả đâu. Nấu món gì cũng chỉ có muối, muối và muối. Có một lần, mình dùng bột canh i-ốt để để nấu canh bắp cải, nước dùng ngon và ngọt hơn hẳn. Bạn ở Mỹ ăn rồi hỏi là, “Gia vị bí ẩn gì mà ngon thế?” Mình chỉ cười rồi bảo là “Muối version Việt Nam đấy.”

    8. Mộc nhĩ, nấm hương khô

Bánh đa nem và miến ở bên kia thì rất sẵn,nhưng mà mình lại cực kì khổ sở khi tìm mộc nhĩ với nấm hương để gói nem. Vốn mê cái sật sật của mộc nhĩ và mùi thơm của nấm hương nên năm nay mình sẽ mang một tí mộc nhĩ nấm hương sang.

9. Bột nếp

Bột nếp bên kia không phải không có, nhưng mình cũng khá gian nan đi xuống NYC mới mua được. Nhờ chị Ngân mang theo túi bột nếp nên hai chị em làm được bánh trôi bánh chay ngon ngon.

    10. Cạp lồng giữ nhiệt, đũa

Có những lúc phải mang đồ ăn nóng đi chơi, hoặc là nấu ăn buổi sáng để cho cả ngày, thì cạp lồng sẽ cực kỳ tiện ích. Đũa thì để ăn thôi.

LƯU Ý: Không cần mang nhiều mỳ ăn liền/ đồ ăn ăn liền.

Mình mang 8 gói phở/ bánh đa ăn liền, cả năm ăn được 1 gói. Luôn có đồ ăn ở trường, và nếu đói thì cũng mua được mỳ ramen ở siêu thị, hoặc đặt 1 thùng phở ăn liền 25 gói 26 đô trên Amazon.

Hơn nữa, ăn mỳ ăn liền rất dễ nổi mụn, đừng ăn.

Về ĐỒ MẶC:

    11. Các loại quần áo có hoạ tiết ngộ nghĩnh dễ thương

Ngắn gọn là ở Mỹ, quần áo chán lắm. Mọi người cứ bảo là sang đó mua đồ vừa rẻ vừa đẹp, mình chẳng thấy như thế chút nào. Đồ rẻ thì xấu, đồ đẹp thì đắt lắm lắm. Mà đồ đắt, nhìn mác lại thấy Made in Vietnam… Đồ ngộ nghĩnh, hoạ tiết hoạt hình Disney cute cute thì đừng mơ mà tìm được. Nói chung, muốn có những chiếc áo độc đáo dễ thương thì hãy mang thật nhiều quần áo từ Việt Nam sang.

Thậm chí, mọi người hay bảo đồ mùa đông sang kia mua, nhưng năm vừa rồi mình chẳng mua được cái áo khoác nào ưng ý cả, vì đồ vừa đắt vừa xấu. Năm nay sẽ mang áo khoác từ Việt Nam. Thời tiết rét buốt thật nhưng mà mặc nhiều áo là được.

Nhìn chung, mình nghĩ quần áo thì mang càng nhiều từ Việt Nam càng tốt: áo sơmi, áo phông, quần shorts, quần dài, quần bò, áo vest, áo len, áo khoác, tất, đồ lót, đồ ngủ, đồ bơi.

Giày thì mình thấy mua ở bên kia cũng khá ổn.

    12. Mấy thứ đồ cute cute kiểu huy hiệu, vòng tay hay có ở Khương Thượng

Cũng mang tuốt, vì nhắc lại, ở Mỹ, đồ dễ thương ngộ nghĩnh không có đâu. Hoạ tiết cái gì cũng basic hết.

    13. Làm một đôi kính dự phòng từ Việt Nam

Kính ở bên kia bị đắt, khoảng 300 đô. Nếu bị vỡ kính hoặc mất kính thì còn có kính dự phòng để dùng, không thì sạt nghiệp mất.

    14. Áo dài

Không quá thiết yếu, nhưng có thể mặc 1-2 dịp cho có tinh thần.

15. À, phải mang cả Bộ kim chỉ để khâu quần áo nữa. Mấy cái này ở siêu thị có hộp bé bé xinh xinh tiện dụng dùng luôn cho cả 4 năm.

Một số đồ lặt vặt khác:

    16. Chun

Bên kia không biết kiếm chun ở đâu, còn ở Việt Nam thì chun nhan nhản ở khắp nơi. Đến giai đoạn mình buộc tóc mình mới phát hiện ra khủng hoảng chun. Cuối cùng, mình phải lấy chun buộc rau cải xoong ở siêu thị, rửa đi rồi mới buộc tóc.

17. Đồ vệ sinh cá nhân: lọ sữa tắm nho nhỏ, gói nước gội đầu nhỏ, lược, bông ngoáy tai, khăn tắm

Ở bên kia mua được, nhưng những thứ này sẽ hữu ích khi đi du lịch và những ngày đầu tiên đến trường.

    18. Mang theo ảnh kỉ niệm, các đồ kỉ niệm với bạn bè người yêu

Vì sang bên kia sẽ nhớ bạn bè lắm lắm. Nhớ vãi… Hơi hối hận vì năm ngoái không mang kỷ yếu Made In Mười Hai 10-13.Va

    19. Mang một chút đồ truyền thống Việt Nam

Những thứ nho nhỏ như búp bê mặc áo dài hay tranh lụa sẽ trở nên hữu ích một lúc nào đấy: để tặng bạn, tặng giáo sư, hoặc trang trí ở trong phòng. Các bạn Mỹ thích đồ châu Á cực kỳ.

Một vài lưu ý nho nhỏ:

1. Đồ điện/ điện tử thì mua hết ở bên kia

Cái này thì ai cũng biết rồi. Vì hệ thống điện hai nước khác nhau, nên những đồ như máy sấy, ấm đun nước, bàn là… mua hết ở bên kia. Tuy nhiên, mình có mang theo cái cắm điện nhiều ổ từ Việt Nam và cục chuyển đổi điện/adapter.

2. Nếu pack giày trong vali thì nên nhét tất đã cuộn tròn vào trong giày để giữ form giày không bị hỏng.

3. Mua túi chân không, xếp áo quần phẳng phiu ở bên trong, rồi dùng máy hút bụi để hút hết không khí ra ngoài, cái túi sẽ còn lại cực kì bé. Mình chẳng bao giờ cuộn tròn đồ quần áo như mấy cái hướng dẫn ở trên mạng cả.

Chúc mọi người pack đồ vui vẻ và sử dụng hết 44 cân một cách hiệu quả ^^

HN, 10.08.2014.

P.S: Nghe thêm về cuộc sống đại học từ buổi nói chuyện ở Hội thảo VietAbroader:

Part 1: https://www.youtube.com/watch?v=y5lFmppczS8

Part 2: https://www.youtube.com/watch?v=enLLO34MmzM

Part 3:https://www.youtube.com/watch?v=IGwS3GUPJIY

Part 3:https://www.youtube.com/watch?v=IGwS3GUPJIY

Đăng tải tại Abroad, in America, Everyday I Grow A Bit More, Travel Diaries | Thẻ , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?

Vài suy nghĩ về 8 bộ phim được đề cử Best Picture – Oscar 2015.

Trong vài tuần vừa qua, thầy giáo của mình hay nhắc lại trong lớp là kể từ năm 1939, với “Stagecoach,” “Gone with the Wind” và “The Wizard of Oz,” lịch sử mới lặp lại với một năm có nhiều phim xuất sắc như 2014. Chính vì thế, mình đã dành thời gian trong suốt 4 tuần vừa rồi để xem hết 8 bộ phim được đề cử Best Picture tại Oscar năm nay. Mỗi phim đều có nét độc đáo của riêng mình, và đúng là việc chỉ chọn một để trao giải “Best Picture” là rất khó. Dưới đây là review theo cảm nhận của mình về 8 bộ phim này, sắp xếp theo thứ tự, bắt đầu từ bộ phim mình ấn tượng nhất.

1. WHIPLASH, đạo diễn Damien Chazelle.

Có thể mình xếp Whiplash ở vị trí đầu tiên vì đây là bộ phim đầu tiên mình xem, được chiếu tại Vassar, có thể đơn giản vì producer của phim là alum của trường mình, nên có một chút “cảm tình” và thấy gần gũi hơn các phim khác. Tuy nhiên, dùng từ “xuất sắc” để nhận xét về Whiplash là không hề nói quá.

Đầu tiên, về nội dung, bộ phim đề cập đến một vấn đề muôn thuở, vẫn đang rất “nóng” trong xã hội hiện đại: phương thức giáo dục nào là hiệu quả hơn? Có những người giáo dục bằng punishment, bằng việc đẩy người khác vào những tình huống khổ cực để họ vượt qua những rào cản khó khăn nhất và thành công. Pushing people to the extreme. Có những người giáo dục nhẹ nhàng, bằng positive reinforcement, sử dụng sự động viên, ủng hộ để tạo động lực. Mặc dù theo Tâm lý học, người ta đã chứng minh rằng positive reinforcement có hiệu quả hơn, song trong thực tế, có không ít những thành tựu vĩ đại lấy động lực từ những cách đối xử khốn nạn nhất. Nói cách khác, đây là mâu thuẫn giữa kết quả vs. quá trình, giữa đam mê trở nên “vĩ đại” của Andrew và sự chịu đựng có hạn của tinh thần, cơ thể cậu. Bộ phim đi rất khéo giữa cái ranh giới của hai điều này mà không “ngã,” không đưa ra một kết luận chắc nịch, luôn luôn giữ một sự mơ hồ nhất định, níu khán giả lại, và rồi tự hỏi khán giả câu hỏi này chứ không trả lời. Khi Fletcher bị đuổi việc, tưởng như bộ phim đã phân rõ “thiện” – “ác,” tưởng như Fletcher đã bị kết án, song, việc Andrew quay lại với Fletcher lại đưa người xem về cái ranh giới mong manh kia. Vậy việc Fletcher abuse Andrew là tốt hay xấu? Không thể trả lời rõ ràng trắng đen được. Thay vì đi tìm một câu trả lời, bộ phim gợi mở và chỉ ra những cái tốt, những cái xấu của cách giáo dục này. Về cuối ngày, tuân theo phương pháp ấy hay không là lựa chọn của mỗi cá nhân.

Bên cạnh content, phần aesthetics (thẩm mĩ/ nghệ thuật) của bộ phim cũng rất ấn tượng. Có lẽ đây là bộ phim thành công nhất trong 8 bộ phim trên phương diện chạm tới các giác quan của người xem. Cách sử dụng âm thanh, cụ thể ở đây là đặc thù của tiếng trống, để đẩy cao trào và cảm xúc, là nét độc đáo của Whiplash. Đừng nghĩ việc tác động tới các giác quan là dễ. Những thứ nhìn đẹp và nghe hay một cách rõ ràng thì rất nhiều, đấy là tác động từ bên ngoài, nhưng ở đây, tiếng trống đã như luồn sâu vào trong từng thớ thịt và tác động trở lại từ bên trong, khiến cơ thể của người xem trở thành một phần của từng nhịp nhạc. It’s a very subtle process that not many films can accomplish.

Một bộ phim không cũ, khai thác một chủ đề có thể nói là mới, cách thể hiện sáng tạo mà gần gũi, màu sắc phù hợp với từng cảnh. Diễn xuất của J. K. Simmons tuyệt vời, cứ làm người xem vừa yêu vừa ghét, vừa biết ơn vừa hận nhân vật. Miles Teller cũng là một lựa chọn hay. Tuy nhiên, mình personally prefer diễn viên đóng Andrew trong phiên bản đầu tiên của phim – một phim ngắn 15 phút – hơn.

2. SELMA, đạo diễn Ava DuVernay

Một bộ phim tuyệt hay, mà nếu không vướng scandal thổi phồng lịch sử thì đã quá xứng đáng được đề cử cho nhiều giải hơn nữa, đặc biệt là Sound Editing và Production Design. Tuy nhiên, truất hết tất cả các đề cử này, và chỉ để lại Best Picture và… Best Original Song (actually for John Legend) vẫn là một sự bất công đối với một bộ phim chạm đến tận trái tim như Selma.

Có một vài lí do mình nghĩ Selma hay hơn Birdman hay Boyhood, 2 ứng cử viên nặng ký nhất của năm nay. Đầu tiên, Selma đề cập đến vấn đề đang rất cấp thiết của nước Mỹ đương đại – nạn phân biệt chủng tộc. Mặc dù trong xã hội hiện thời, những ngôn ngữ, hành vi, chế độ và luật pháp thể hiện sự phân biệt đã không còn, song việc phân biệt từ bên trong, từ lối suy nghĩ, từ định kiến ngầm, vẫn còn tồn tại quá nhiều. Điển hình nhất là vụ cảnh sát bắn chết Mike Brown tại Ferguson gần đây, rồi quyết định vô tội của toà án ban xuống, như một cái tát vào mặt những người muốn đòi lại sự công bằng cho cộng đồng da màu. Năm ngoái có 12 Years A Slave, năm nay có Selma, vậy là đủ chưa? Chưa, vì cần nhiều bộ phim hơn thế để giáo dục cho người Mỹ trắng thấy “All men are created equal” nghĩa là sao.

Nếu 12 Years A Slave phủ một màu xanh rêu trầm lặng suốt toàn bộ phim, thì Selma lạc quan và đầy hy vọng hơn với tông vàng nóng. Bộ phim lột tả trần trụi sự đối xử bất công của chính quyền da trắng với những người da đen tại Selma. Gây khó dễ khi đi bỏ phiếu. Chặn đường biểu tình. Đánh đập tàn nhẫn. Dùng súng đàn áp dã man. Có quá nhiều người bỏ mạng và bị thương, song chính phủ lại chẳng mảy may quan tâm. Khoảnh khắc cảm động nhất phim là khi cuộc đàn áp được phủ rộng trên ti vi, rất nhiều người, với các màu da khác nhau, đã quy tụ về Selma để tham gia biểu tình ủng hộ. Tại đây, vấn đề phân biệt chủng tộc đã trở thành vấn đề ứng xử giữa người với người. Cùng là người với nhau, những hành vi bạo lực của chính quyền da trắng đã chạm tới lòng thương cảm và sự phẫn nộ của bao người con nước Mỹ khác, không kể màu da. Đoạn phim một đoàn người rất dài, nối nhau biểu tình, thể hiện tình đoàn kết và tinh thần nhân đạo đạt đến đỉnh điểm. Không còn gì có thể cản chân họ, để tìm được chân lý cho bản thân.

Về aesthetics, bộ phim sử dụng rất nhiều đường thẳng kẻ dọc trên màn hình: toà nhà, cột cờ, vách tường, trụ cầu… Các cảnh quay nhất quán, vuông vắn, đối xứng hình học, góp phần thể hiện sự đúng đắn trong lí tưởng và lòng quyết tâm cao độ trong từng hành động của Martin Luther King Jr. Điểm yếu dễ thấy nhất có lẽ chính là David Oyelowo. Diễn xuất của ông chưa thật sự toát lên hết cái “thần” của nhân vật Martin Luther King Jr., một nhân vật quan trọng trong lịch sử Mỹ.

Selma cũng là bộ phim duy nhất khiến mình khóc trong quá trình xem phim. Tuy nhiên, với sự không ưu ái của the Academy đối với bộ phim, giải Oscar có lẽ sẽ khó nằm trong tầm tay

3. BIRDMAN, đạo diễn Alejandro Gonzalez Inarritu

Bây giờ mới tới Birdman, “người hùng” của Oscar năm nay với 9 đề cử. Đây có lẽ là bộ phim hợp vị và dễ được Best Picture nhất, vì sự hoà quyện tuyệt vời giữa nội dung và nghệ thuật. Nội dung độc đáo, khai thác tâm lý hay, cách quay phim như một cảnh liền, còn sound mixing đã lột tả được không khí của câu chuyện.

Nội dung của Birdman có thể tóm gọn một cách đơn giản – khát khao quay trở về vinh quang của một diễn viên đã quá thời. Bộ phim đã tập trung khai thác chiều sâu thay vì độ rộng của chủ đề này, và đây chính là cái hay của nó. Riggan Thomson bị ám ảnh quá sâu với vai diễn Birdman huyền thoại, và khi ông chuyển sang đóng kịch Broadway, mọi thứ trở nên khó khăn. Nặng tình và say mê với nghệ thuật, ông đã bỏ bê cả gia đình và sẵn sàng đối xử tệ bạc với những người xung quanh. Buổi diễn chính thức đầu tiên trên sân khấu Broadway của Thomson là một kiệt tác. Khoảnh khắc ông tự bắn súng vào mũi của mình dù đã được báo trước, song vẫn là một sự giật mình đến kinh ngạc của cả người xem trong hai thế giới. Một khoảng lặng cho những suy nghĩ về nghệ thuật, cho mục đích và những hy sinh. Các chi tiết trong phim đan cài và kết nối với nhau rất chặt chẽ: súng thật – súng giả, chiếc mũi bị thương – chiếc mũi của Birdman huyền thoại. Mọi thứ về giây phút cuối cùng như được gỡ hết, và người xem được thở phào nhẹ nhõm, bước ra khỏi mê cung tâm lý rối ren của nhân vật. Chính nhân vật cũng trở thành một “Birdman” THẬT hơn rất nhiều Birdman màn ảnh, thật sự nhảy ra cửa sổ và bay lên, giải thoát khỏi nỗi ám ảnh nghệ thuật và chấp nhận hy sinh hết mình.

Gây cảm giác cả bộ phim chỉ quay trong một cảnh long take liền mạch giống Russian Ark là một quyết định táo bạo và hiệu quả để kể câu chuyện này. Chúng ta đi theo nhân vật, đi khám phá không gian, nhưng hoá ra cả mấy chục phút chỉ đi lòng vòng trong một khu nho nhỏ giữa thành phố New York đông đúc. Thi thoảng, chúng ta sẽ tự hỏi đây là không gian thật hay chỉ là không gian trong ảo tưởng. Cách đan xen giữa thực tế và mơ mộng cũng là một điều độc đáo của phim. Ngoài ra, reference tới Method acting của Constantin Stanislavski cũng là một điểm nhấn. Method acting thì dựa trên improvisation, trong khi Thomson lại đang đi theo một kịch bản cụ thể, một ngôi nhà với những ngõ hẻm chắc nịch, một mục tiêu đặt trước, đã tạo nên mâu thuẫn rất “sắc” cho câu chuyện.

Tại sao Birdman không hay bằng Whiplash? Vì sự demonise các nhà phê bình và làm quá trong cách thể hiện quyền lực của họ. Trong thực tế, một bài phê bình của một nhân vật “chưa xem mà đã phán” thì có đủ sức mạnh để lật đổ một công trình nghệ thuật hay không? Ngoài ra, trong một vài cảnh, sự lồng ghép của ảo mộng bị hơi làm quá, cảm giác đã crossed the line một chút, khiến mạch truyện đứt quãng. Tuy nhiên, chi tiết này đóng vai trò cho sự châm biếm Hollywood hiện nay, chỉ chăm chăm tập trung làm những bộ phim super-hero sáo rỗng, doanh thu cao, mà không có chút nghệ thuật nào trong đó cả. Quá đúng.

4. THE GRAND BUDAPEST HOTEL, đạo diễn Wes Anderson

Một bộ phim quá đẹp. Chăm chút đến TỪNG khung cảnh, từng background, đặt ai đặt gì tại đâu. Có thể tóm gọn về phim như vậy. Nhưng cũng chính điều này mà mình xếp Budapest ở vị trí thứ 4. The style has outweighed the content, and that’s not necessary good. Phần thẩm mỹ hơi lấn át nội dung.

Cái hay của The Grand Budapest Hotel chính là xem bộ phim live-action nhưng lại cảm giác như đang xem một bộ phim hoạt hình, kiểu như cảnh rượt đuổi trong Tom and Jerry. Yếu tố con người trở nên nhỏ bé trong không gian, còn khung cảnh lại trở thành nhân vật. Một thế giới mà mọi thứ đều đi theo nhịp nhanh, như máy móc, vừa mắc cười, vừa đáng sợ mà cũng vừa cảm thấy an toàn vì chúng ta đủ thông minh để luồn lách. Cách kể chuyện nhanh, các chi tiết hài, khiến người ta hiểu những câu chuyện như này chỉ xảy ra trong thế giới phim, hoặc một thế giới viễn tưởng khác.

Không có gì nhiều để nói về nội dung. Song, sự xuất sắc về phần nhìn là một điều rất đáng ghi nhận, vì không phải ai cũng làm được nó tinh tế và tài năng như Wes Anderson.

5. BOYHOOD, đạo diễn Richard Linklater

Với Boyhood, ý tưởng quay phim là ấn tượng nhất. Sự kỳ công của đạo diễn khi thiết kế một kịch bản với nhiều rủi ro, đặc biệt là với xã hội và công nghệ luôn luôn thay đổi, là rất đáng trân trọng. Ở lại với nhân vật, sống cùng nhân vật, thật không tưởng tượng được tốn bao nhiêu công sức và thời gian. Và đây là thành quả, một bộ phim hyper-realism, sống cùng với cuộc đời, thấm vào cuộc đời mà rất nhiều người có thể đồng cảm.

Cái hay nhất của Boyhood là việc sử dụng các pop culture references để thể hiện sự thay đổi về thời gian và các giai đoạn trưởng thành của Mason. Từ thời nhạc Britney Spears còn làm mưa làm gió, cho tới những năm tháng của High School Musical, rồi tới Telephone của Lady Gaga, tất cả những thứ rất quen thuộc và trở thành biểu tượng trong văn hoá Mỹ. Khi nhắc tới những chi tiết này, có lẽ ai cũng mỉm cười nhẹ và có thể thấy, đây cũng “từng” là mình. Khai thác tình cảm mẹ con, cha con, thông qua các cuộc hôn nhân của người mẹ, cũng khiến người xem suy nghĩ, thấy bực tức phẫn nộ cùng nhân vật, thấy ấm lòng cùng nhân vật, và cuối cùng thấy thương cảm cho nhân vật. Motif “mẹ kế” kinh điển của chuyện cổ tích một lần nữa được sử dụng thành công.

Vai diễn ấn tượng nhất là của Patricia Arquette, chị xứng đáng thắng Best Supporting Actress nhất năm nay. Từng khía cạnh của cảm xúc, từng giai đoạn của cuộc đời, từng nấc thang của số phận, được thể hiện ra hết, đa dạng, sâu sắc, dễ cảm thông. Một người phụ nữ từ ngây thơ đến trải nghiệm, từ mơ mộng về những thứ hão huyền cho tới nhận ra thực tế phũ phàng. Lúc Mason chuẩn bị bước vào đại học có lẽ là đoạn phim cảm động nhất. Mình xem và tự hỏi, vậy đây thật ra là bộ phim về sự trưởng thành của Mason, hay sự già đi của Olivia? Có thể nói, Patricia Arquette hoàn toàn lấn át Ellar Coltrane.

Âm hưởng Neorealism của những năm 50s, 60s phảng phất trong Boyhood, khiến bộ phim như một cơn sóng nhẹ nhàng chảy qua một cuộc đời xuyên suốt. Tuy nhiên, chính vì không có nhiều cao trào và nội dung độc đáo, mình xếp Boyhood ở vị trí thứ 5.

6. THE IMITATION GAME, đạo diễn Morten Tyldum

Đầu tiên, bộ phim này, trong một bài review khác mà không liên quan tới Oscar, sẽ ở vị trí đầu tiên. Tuy nhiên, chính vì sự mới mẻ, độc đáo và các thử nghiệm độc đáo của những bộ phim nêu trên mà Imitation Game sẽ khiêm tốn ở vị trí thứ 6. Bộ phim tròn trịa nhất, trọn vẹn nhất trong 8 bộ phim đề cử năm nay. Điểm mạnh: khiến người xem cảm thấy ấm lòng, xúc động. Điểm yếu: không mới, khó được giải Oscar.

Mình yêu Imitation Game đến từng hơi thở. Nội dung như một bài học lịch sử hiện đại, tái hiện lại cuộc đời lẩn chìm trong bóng tối của Alan Turing. Bộ phim tròn trịa theo khuôn mẫu: hoàn cảnh -> vấn đề -> giải quyết vấn đề. Chủ đề homosexuality vừa được thể hiện một cách cực kỳ đẹp và nhân văn, vừa được trao vào tay tài năng diễn xuất Benedict Cumberbatch. Nói thật, trước khi xem phim, mình không mấy thiện cảm với diễn viên này, nhưng sau khi xem xong thì mình đã thay đổi hẳn. Mình bần thần, run người và đã nằm suy nghĩ rất nhiều sau hôm xem phim. Phim đã chạm được tới đáy cảm xúc của mình.

Chính sự tròn trịa lại vô tình trở thành một điểm yếu. Không có gì mới mẻ trong The Imitation Game. Chủ đề “giải quyết một bài toán khó” đã quá quan thuộc với thể loại adventure/ mystery. Chủ đề “những người bị hắt hủi” gần như trở thành kinh điển. Chủ đề homosexuality không mới. I personally admire this movie like crazy, but objectively enough, I don’t think it deserves an Oscar.

7. AMERICAN SNIPER, đạo diễn Clint Eastwood

Một bộ phim biopic hay và xúc động. Đặc biệt, mình xem cả phim, tưởng chừng như một câu chuyện hoàn toàn hư cấu, nhưng ngay tại cảnh ánh mắt lạ lùng của người vợ ở gần cuối phim, đã có cảm giác “có điều gì đó rất quan trọng sắp xảy ra.” Khi bộ phim sử dụng text ở đoạn cuối để nói về cái chết của Chris Kyle, mình mới bần thần biết rằng đây là một nhân vật có thật, và tất cả những điều xảy ra là thực tế. Quyết định không khắc hoạ cái chết này bằng hình ảnh, mà chỉ bằng một dòng chữ ngắn, là một quyết định khéo léo. Nó vừa thể hiện sự tôn trọng nhân vật và phiên toà xét xử vẫn đang diễn ra, vừa kéo người xem về thực tế và đọng cảm xúc nhờ một màn hình đen tối giản.

Bộ phim, giống nhiều bộ phim chiến tranh khác, miêu tả sâu về tâm lý của người lính, khắc hoạ nỗi khó khăn và tôn vinh sự dũng cảm của họ. Chọn cuộc chiến tranh Iraq năm 2003, chỉ mới 8 năm trước, bộ phim có thể chuyển cảnh giữa chiến trường khốc liệt và xã hội Mỹ yên bình, phát triển, để càng tô đậm sự khác nhau giữa hai thế giới. Là nhân vật đi qua ranh giới ấy tận 4 lần, Chris Kyle vừa mang sự can đảm của người lính trên chiến trận, trách nhiệm của người anh trong gia đình, sự háo hức của một người cha và tình yêu đối với người vợ ở xa nửa vòng trái đất. Diễn xuất của Bradley Cooper rất, rất đạt.

Điểm yếu của bộ phim có lẽ rất rõ ràng: phủ lên cuộc chiến tranh phi nghĩa tại Iraq bằng một lớp anh hùng được tô vẽ hoành tráng. Chris Kyle là có thật. Những khó khăn là có thật. Những chịu đựng và lòng dũng cảm là có thật. Song, khi đặt bộ phim vào bối cảnh lịch sử, có một sự mâu thuẫn và buồn cười khá lớn. Cuộc chiến tranh này phức tạp hơn nhiều cái ranh giới hai chiều thiện – ác. Và nước Mỹ cũng chẳng phải “phe tốt” trong chiến tranh. Việc kẻ làn tốt – xấu trong bộ phim chỉ là một dấu ấn nữa của Americanism mà thôi.

8. THE THEORY OF EVERYTHING, đạo diễn James Marsh

Năm nay có vẻ hơi nhiều biopics. Stephen Hawking là một lựa chọn hay, một nhân vật thú vị và có nhiều điều đáng nói về. Bộ phim này thiên về aesthetics hơn content. Cách sử dụng hai màu xanh lá – vàng, kết hợp với nhau, khiến bộ phim trở nên rất đẹp và lạc quan. Hai màu, một của sự sống, một của hy vọng, là biểu tượng cho tinh thần chiến đấu với bệnh tật qua từng năm từng tháng của Hawking. Hai màu này còn có thể kể chuyện và đóng vai trò như Greek Chorus, comment cho những chi tiết trong mạch truyện. Mise-en-scene ấn tượng nhất là khi Hawking ở bên phải màn hình, in focus, màu vàng, còn Jane ở bên trái, out of focus, màu xanh. Ranh giới hai màu như thể hiện sự chia rẽ giữa hai vợ chồng, mà không cần một lời nói, người xem có thể tự hiểu.

Ngoài ra bộ phim không có gì mấy. Không cao trào. Nhịp phim hơi nhanh. Khó làm cho người xem đồng cảm với nhân vật chính. Diễn xuất của Felicity Jones nhạt ơi là nhạt, hoặc là nhân vật bị xây dựng thiếu tâm lý, không hiểu sao được đề cử Best Actress. Mọi thứ làm chưa tới. Xin lỗi nhưng vị trí này dành cho Gone Girl thì xứng đáng hơn.

Tóm gọn lại, mặc dù thích WhiplashSelma hơn nhưng mình nghĩ Birdman phù hợp với giải Oscar nhất. Lí do? Các phim khác hoặc thiên về thẩm mỹ, hoặc thiên về nội dung, còn Birdman hoà hợp được cả hai một cách khéo léo. Chủ đề được khai thác sâu, âm thanh provocative, diễn xuất hay, có một chút “quái” rất hợp với giải thưởng của viện Hàn Lâm. Vậy tối ngày mai, tình cảm vote cho Whiplash, lý trí vote cho Birdman, còn nếu The Theory of Everything được bất cứ giải nào, xin được lao vào máy phát điện.

NY, 21.02.2015.

*For comments and discussions of this topic, please visit the original post: https://www.facebook.com/notes/si%C3%AAu-nguy%E1%BB%85n/v%C3%A0i-suy-ngh%C4%A9-v%E1%BB%81-8-b%E1%BB%99-phim-%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c-%C4%91%E1%BB%81-c%E1%BB%AD-gi%E1%BA%A3i-best-picture-oscar-2015/10155211432250176?pnref=lhc

Đăng tải tại Film Reviews | Thẻ , , | Bạn nghĩ gì về bài viết này?